19h:19 (GMT+7) - Thứ hai, 16/03/2026 Theo dõi MXH:

Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài VIII - Phần học hiểu về các Thánh Tử Đạo quê hương Phát Diệm

9h:18 (GMT+7) - Thứ ba, 3/03/2026

HUẤN GIÁO TUẦN VIII

Chủ đề: HỌC HIỂU VỀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO QUÊ HƯƠNG PHÁT DIỆM

 

 

Câu 1. Hỏi: Thánh Anê Lê Thị Thành sinh năm nào và trong hoàn cảnh gia đình ra sao?

Thưa: Bà sinh khoảng năm 1781 tại làng Bái Điền (Gia Miêu), trấn Thanh Hoa nội. Gia đình là tín hữu Công giáo, nhưng vì hoàn cảnh gia đình xáo trộn, mẹ bà đã đưa hai chị em về sống tại thôn Đồng, làng Phúc Nhạc (nay thuộc Ninh Bình).

Câu 2. Hỏi: Cuộc sống hôn nhân và gia đình của bà như thế nào?

Thưa: Năm 17 tuổi, bà kết hôn với ông Nguyễn Văn Nhất. Ông bà có sáu người con (hai trai, bốn gái), sống hiền lành, chăm chỉ làm ăn và gương mẫu trong đời sống đạo đức.

Câu 3. Hỏi: Vì sao bà được gọi là “Bà Thánh Đê”?

Thưa: Vì con trai trưởng của bà tên là Đê, nên dân làng quen gọi ông bà là ông Đê, bà Đê; sau này khi được tôn phong hiển thánh, tín hữu trìu mến gọi bà là Bà Thánh Đê.

Câu 4. Hỏi: Bà đã giáo dục con cái và sống đức tin thế nào?

Thưa: Bà trực tiếp dạy con đọc chữ, học giáo lý, siêng năng tham dự thánh lễ, xưng tội rước lễ; đồng thời khuyên con sống hòa thuận, nhẫn nhịn và trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh.

Câu 5. Hỏi: Trong thời bách hại đạo, gia đình bà đã làm gì?

Thưa: Gia đình bà dành nhà làm nơi trú ẩn cho các linh mục và thừa sai đang bị truy bắt. Chính vì che chở các vị này mà bà bị tố giác và bắt giữ.

Câu 6. Hỏi: Bà bị bắt và chịu tử đạo trong hoàn cảnh nào?

Thưa: Ngày 14-04-1841 (Lễ Phục Sinh), quan quân bao vây làng Phúc Nhạc, bắt bà cùng chồng và các linh mục. Trong tù tại Nam Định, bà bị đánh đập, gông cùm và tra tấn dã man, nhưng vẫn kiên quyết không chối đạo.

Câu 7.  Hỏi: Bà qua đời khi nào và được Giáo Hội tôn phong ra sao?

Thưa: Sau ba tháng chịu giam cầm và cực hình, bà qua đời ngày 12-07-1841, khoảng 60 tuổi. Bà được phong Chân Phước năm 1909 và được tuyên thánh năm 1988. Bà là vị nữ tử đạo duy nhất trong 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam.

 

Thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan

Câu 8. Hỏi: Thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan sinh năm nào, tại đâu và xuất thân thế nào?

  • Ngài sinh năm 1771 tại làng Bồng Hải, xã Khánh Thiện, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, trong một gia đình lương dân. Sau này, nhờ công khó của cha Thạch, cả gia đình trở lại đạo và ngài được nhận vào Nhà Đức Chúa Trời để đào tạo ơn gọi linh mục.

 

Câu 9. Hỏi: Đời sống đạo hạnh của ngài thế nào?

  • Ngài nổi tiếng là người sống hiền lành, công minh, bác ái và khổ chế. Ngài luôn làm gương về khiêm nhường, vâng phục, siêng năng.

Câu 10. Hỏi: Khi làm chính xứ Phúc Nhạc, cha Khoan sống và thi hành sứ vụ mục tử thế nào?

  • Dù tuổi cao, cha vẫn đi bộ thăm các họ đạo hằng tháng. Ngài ăn mặc giản dị, giữ chay nghiêm nhặt, hay làm phúc cho người nghèo và nổi bật trong việc giảng dạy hai nhân đức: công bằng và trong sạch.

Câu 11. Hỏi: Cha Khoan bị bắt trong hoàn cảnh nào?

  • Cuối tháng 8 năm 1837, khi đi ban Bí tích sau cùng cho một bệnh nhân, cha bị chỉ điểm và bị bắt ngày 24-8-1837 cùng hai thầy giảng. Ngài bị giam tại Ninh Bình suốt ba năm trong điều kiện khắc nghiệt.

Câu 12. Hỏi: Trong thời gian tù đày, cha đã sống chứng tá đức tin ra sao?

  • Dù bị giam chung với trộm cướp, chịu cảnh hôi hám, đói khổ, ngài vẫn giữ chay, cầu nguyện, an ủi bạn tù, rửa tội cho người sắp chết và nuôi giúp những tù nhân nghèo đói bằng phần ăn của mình.

Câu 13. Hỏi: Khi bị tra khảo và dụ dỗ bỏ đạo, cha Khoan đã trả lời thế nào?

  • Ngài khẳng định: “Càng suy nghĩ, càng nhận thức đạo của Chúa là chính đạo.” Ngài giải thích về sự sống đời đời, về lòng trung thành với Thiên Chúa, và coi việc phản bội đức tin còn tệ hơn cái chết.

Câu 14. Hỏi: Cha Phaolô Phạm Khắc Khoan chịu tử đạo khi nào và được Giáo Hội tôn phong ra sao?

  • Ngài chịu tử đạo ngày 28-4-1840 tại núi Cánh Diều. Ngày 27-05-1900, Đức Lêô XIII phong ngài lên bậc Chân phước, và ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II tuyên phong ngài Hiển Thánh cùng 116 Thánh Tử Đạo Việt Nam.

 

Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ

 

Câu 15. Hỏi: Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ sinh năm nào, ở đâu và có hoàn cảnh gia đình ra sao?

  • Ngài sinh năm 1804 tại trại Đại Đăng, vùng Vân Sàng (Ninh Bình). Mồ côi cha lúc 10 tuổi, mồ côi mẹ lúc 12 tuổi, ngài được bà dì nuôi dưỡng, dạy chữ Nho và nghề thuốc, đồng thời rèn luyện đời sống đạo đức vững vàng.

 

Câu 16. Hỏi: Từ nhỏ, ngài đã nổi bật về những đức tính nào?

  • Ngài hiền hòa, siêng năng cầu nguyện, không ham chơi hội hè, tránh xa tật xấu và thường đọc kinh một mình, sống đời đạo đức âm thầm.

Câu 17. Hỏi: Đời sống hôn nhân và gia đình của Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ  thế nào?

  • Ngài kết hôn với bà Maria Miến, có tám người con. Gia đình luôn đọc kinh sáng tối, giữ lễ và giữ chay, sống hòa thuận. Ngài dạy con: “Việc gì cũng phải làm sáng danh Chúa trước đã.”

Câu 18. Hỏi: Khi làm Lý trưởng Vĩnh Trị, ông thi hành trách vụ ra sao?

  • Ngài xử kiện công minh, không nhận hối lộ, nghiêm cấm cờ bạc, rượu chè và bảo vệ cộng đoàn Công giáo trong thời cấm đạo, giữ bí mật nơi ẩn của các linh mục.

Câu 19. Hỏi: Vì sao ông bị bắt và chịu tù đày?

  • Vì bảo vệ các linh mục và Đức Giám mục trong thời bách hại, nên ngày 02-7-1838 ông bị bắt, đánh đập và giải về Nam Định.

Câu 20. Hỏi: Trong thời gian bị tra tấn, ông đã sống đức tin và lòng hiếu thảo thế nào?

  • Ông chịu gần 500 roi đòn mà vẫn trung thành với Chúa, còn xin chịu đòn thay cho bố vợ già yếu. Giữa đau đớn, ông vẫn nói: “Đau một chút thôi, miễn làm đẹp lòng Chúa.”

Câu 21. Hỏi: Ông chịu tử đạo khi nào và được Giáo Hội tôn phong thế nào?

  • Ông chịu xử trảm ngày 12-8-1838 tại pháp trường Bảy Mẫu. Ngài được phong Chân phước năm 1900 và tuyên thánh năm 1988, trở thành mẫu gương người cha hiếu thảo, lý trưởng liêm chính và tín hữu trung kiên.

 

Thánh Gioan Baotixita Đinh Văn Thanh

Câu 22. Hỏi: Thánh Gioan Baotixita Đinh Văn Thanh sinh ra trong hoàn cảnh nào và ngài gia nhập Giáo hội khi nào?

Thưa: Ngài sinh năm 1796 tại làng Nộn Khê (nay thuộc giáo xứ Quảng Phúc) trong một gia đình ngoại giáo; đến năm 18 tuổi, ngài được ơn Chúa soi sáng và chịu phép rửa tội tại Phúc Nhạc.

Câu 23. Hỏi: Sau khi tốt nghiệp Trường Thầy Giảng, thầy Đinh Văn Thanh đã đảm nhận những trách nhiệm gì?

Thưa: Ngài được sai về giúp cha thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan và được tín nhiệm giao trông coi trại Đông Biên nhờ tài quản lý khéo léo cùng đời sống khiêm tốn, siêng năng.

Câu 24. Hỏi: Thầy Đinh Văn Thanh bị bắt vào thời gian nào và bị giam giữ ở đâu?

Thưa: Ngài bị bắt vào đêm 24-8-1837 cùng với cha Khoan và thầy Phêrô Nguyễn Văn Hiếu, sau đó bị giam cầm suốt ba năm tại Ninh Bình.

Câu 25. Hỏi: Trước những lời dụ dỗ và tra tấn của quan quân, thầy Thanh đã dứt khoát tuyên xưng đức tin như thế nào?

Thưa: Ngài khẳng định tinh thần trung kiên qua câu nói: “Quan lớn thương thì tôi sống; bằng quan lớn muốn bắt tôi bỏ đạo thì tôi bằng lòng chịu chết. Còn đạo thì tôi chẳng bỏ”.

Câu 26. Hỏi: Trên đường ra pháp trường, ba vị chứng nhân đức tin đã thể hiện thái độ như thế nào?

Thưa: Ba vị đi giữa hai hàng lính với nét mặt bình an, hiên ngang như người đi dự lễ và hân hoan hát vang Kinh Te Deum (Kinh Tạ Ơn) suốt dọc đường.

Câu 27. Hỏi: Cuộc tử đạo của Thánh Gioan Baotixita Đinh Văn Thanh diễn ra vào thời gian và địa điểm nào?

Thưa: Ngài anh dũng chịu án trảm quyết vào sáng ngày 28-04-1840 tại pháp trường Lò Gạch, dưới chân núi Cánh Diều, tỉnh Ninh Bình,.

Câu 28. Hỏi: Thầy giảng Đinh Văn Thanh được Giáo hội tôn phong Chân phước và Hiển thánh vào những năm nào?

Thưa: Ngài được Đức Giáo hoàng Lêô XIII tuyên phong Chân phước vào ngày 27-05-1900 và được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Hiển Thánh vào ngày 19-06-1988.

Thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự

Câu 29. Hỏi: Thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự sinh năm bao nhiêu và quê quán ở đâu theo lời khai của chính ngài?

Thưa: Ngài sinh khoảng năm 1808, và dù có những nghi vấn về nơi sinh, chính ngài luôn khai quê mình ở tỉnh Ninh Bình.

Câu 30. Hỏi: Trong hành trình ơn gọi, thầy Tự đã giúp việc cho những vị mục tử nào?

Thưa: Khi trưởng thành, thầy gia nhập hàng thầy giảng, lúc đầu sai đi giúp cha già Quế. Sau khi cha Quế qua đời, thầy chuyển đến giúp linh mục thừa sai Pierre Borie Cao.

Câu 31. Hỏi: Biến cố "chiếc khăn nhiễu xé đôi" giữa cha Borie Cao và thầy Tự mang ý nghĩa gì?

Thưa: Đây là giao ước của tình yêu và là bằng chứng cho lời hứa trung thành của thầy Tự; thầy đã giữ mảnh khăn ấy như báu vật cho đến ngày tử đạo.

Câu 32. Hỏi: Thái độ của thầy Tự như thế nào khi bị quan quân tra tấn và bắt đạp lên Thánh Giá?

Thưa: Dù phải chịu nhiều trận đòn tàn khốc (tổng cộng hơn 100 roi), thầy vẫn chỉ lặp lại một điều duy nhất: “Tôi không quá khóa” và khẳng định thà chết còn hơn bỏ đạo.

Câu 33. Hỏi: Thầy Tự đã làm gì để tiếp tục sứ vụ thầy giảng trong thời gian bị giam cầm?

Thưa: Trong ngục, thầy vẫn dạy giáo lý cho lính canh, khuyên nhủ giáo dân giữ vững đức tin và thường xuyên đọc kinh nguyện riêng trong đêm.

Câu 34. Hỏi: Trước khi bị hành quyết tại Đồng Hới, thầy Tự đã đưa ra yêu cầu đặc biệt nào?

Thưa: Thầy đã xin được tử đạo đúng tại nơi Đức cha Borie Cao (thầy của mình) đã ngã xuống trước đó để hoàn tất giao ước thiêng liêng.

Câu 35. Hỏi: Thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự chịu tử đạo bằng hình thức nào và vào thời gian nào?

Thưa: Thầy chịu án xử giảo (thắt cổ) vào ngày 10-07-1840 tại pháp trường Đồng Hới khi mới 32 tuổi,.

Ban Giáo lý
CÁC TIN KHÁC
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài IX - Địa phận Phát Diệm sau năm 1954
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài IX - Địa phận Phát Diệm sau năm 1954
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài IX - Địa phận Phát Diệm sau năm 1954
Chi tiết >>
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài VII - Địa phận Phát Diệm được trao cho Giám mục đầu tiên người Việt Nam
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài VII - Địa phận Phát Diệm được trao cho Giám mục đầu tiên người Việt Nam
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài VII - Địa phận Phát Diệm được trao cho Giám mục đầu tiên người Việt Nam
Chi tiết >>
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài VI - Địa phận Đàng Ngoài Duyên Hải - Phát Diệm: Từ hình thành đến phát triển
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài VI - Địa phận Đàng Ngoài Duyên Hải - Phát Diệm: Từ hình thành đến phát triển
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài VI - Địa phận Đàng Ngoài Duyên Hải - Phát Diệm: Từ hình thành đến phát triển
Chi tiết >>
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài V - Địa phận Tây Đàng Ngoài: Bách hại và Phát triển
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài V - Địa phận Tây Đàng Ngoài: Bách hại và Phát triển
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài V - Địa phận Tây Đàng Ngoài: Bách hại và Phát triển
Chi tiết >>
Thư mục vụ Mùa Chay và Phục Sinh 2026 -+Gm. Phêrô Kiều Công Tùng
Thư mục vụ Mùa Chay và Phục Sinh 2026 -+Gm. Phêrô Kiều Công Tùng
Thư mục vụ Mùa Chay và Phục Sinh 2026 -+Gm. Phêrô Kiều Công Tùng
Chi tiết >>
Suy niệm chầu Thánh Thể trong Năm Thánh, tháng 02/2026: Ở lại trong ánh sáng để sinh hoa trái
Suy niệm chầu Thánh Thể trong Năm Thánh, tháng 02/2026: Ở lại trong ánh sáng để sinh hoa trái
Suy niệm chầu Thánh Thể trong Năm Thánh, tháng 02/2026: Ở lại trong ánh sáng để sinh hoa trái
Chi tiết >>
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài IV- Địa phận Tây Đàng ngoài: Từ khủng hoảng đến ổn định
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài IV- Địa phận Tây Đàng ngoài: Từ khủng hoảng đến ổn định
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài IV-Địa phận Tây Đàng ngoài: Từ khủng hoảng đến ổn định
Chi tiết >>
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài III-Địa phận Tây Đàng Ngoài trong những năm đầu
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài III-Địa phận Tây Đàng Ngoài trong những năm đầu
Học hỏi về Năm Thánh Phát Diệm: Bài III-Địa phận Tây Đàng Ngoài trong những năm đầu
Chi tiết >>
Tòa Giám mục Phát Diệm
75 Phát Diệm Đông – Phát Diệm – Ninh Bình
ĐT: (+84) 229 3862 058 – Fax: (+84) 229 3862 724
Email: tgmpdiem@gmail.com
Ban Truyền thông Phát Diệm
Email: bttphatdiem@gmail.com
Kết nối với chúng tôi
Copyright © 2011-2025 Ban Truyền thông Phát Diệm